The Need to Belong
Mở đầu No one likes to feel left out, ignored by colleagues at meetings or not be invited to the big party that everyone is talking about. Imagine not being part of a joke, or worse still, if the joke is on you. For most people, living the life of an outsider can have a negative effect on self-esteem and mood. It can even lead to negative behaviour. The pull to belong is extremely strong. Scientists believe that, in part, there is an evolutionary explanation for why we have this need to belong.
Không ai muốn cảm thấy bị gạt ra ngoài, bị đồng nghiệp phớt lờ trong các buổi họp hay không được mời đến một bữa tiệc lớn mà mọi người đều bàn tán. Hãy tưởng tượng bạn không tham gia được vào một trò đùa, hoặc tệ hơn nữa, trò đùa lại nhằm vào bạn. Đối với hầu hết mọi người, sống như một kẻ ngoài cuộc có thể ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tự trọng và tâm trạng. Nó thậm chí có thể dẫn đến những hành vi tiêu cực. Mong muốn được thuộc về một tập thể là vô cùng mạnh mẽ. Các nhà khoa học tin rằng, một phần, có lời giải thích theo hướng tiến hóa cho lý do vì sao chúng ta có nhu cầu thuộc về như vậy.
In the past, people hunted and cooked together in tribes and each member of the group would be assigned a role. As each member had a purpose, it meant that in the event of the loss of one person, the group as a whole would suffer. For this reason, they had a vested interest in protecting each other. To our prehistoric ancestors, membership of a group meant the difference between survival and death. Those who were rejected and excluded from joining a group had to fend for themselves and struggled to stay alive alone in the wild.
Trong quá khứ, con người săn bắn và nấu ăn cùng nhau trong các bộ lạc, và mỗi thành viên trong nhóm sẽ được giao một vai trò. Vì mỗi thành viên đều có một nhiệm vụ, nên việc mất đi một người có thể làm tổn hại đến cả nhóm. Vì lý do này, họ quan tâm đến việc bảo vệ lẫn nhau. Đối với tổ tiên thời tiền sử, việc trở thành thành viên của nhóm có thể quyết định giữa sự sống và cái chết. Những ai bị từ chối và không được gia nhập nhóm buộc phải tự sinh tồn và cố gắng sống sót một mình nơi hoang dã.
Apart from protection, being part of a group also ensured that genes could be passed onto future generations. Although it is very different now from the way our primitive ancestors lived, our brains have not had time to evolve to fit today’s lifestyles. In this day and age, it is no longer a matter of survival to be affiliated to a tribe or group, but the evolutionary instinct to find protection still lingers.
Ngoài việc bảo vệ, sống cùng nhau trong một nhóm còn bảo đảm rằng các gen có thể được truyền lại cho các thế hệ tương lai. Dù cách sống hiện nay đã rất khác so với tổ tiên nguyên thủy, não bộ của chúng ta vẫn chưa kịp tiến hóa để phù hợp với lối sống ngày nay. Thời nay, việc gắn bó với một bộ lạc hay nhóm không còn là vấn đề sống còn, nhưng bản năng tiến hóa tìm kiếm sự che chở vẫn còn.
This inherent feeling of security that comes with being part of a group is powerful enough to make people employ both conscious and unconscious strategies to gain membership. One obvious way people try to be accepted into a group is self-presentation, which is the act of portraying yourself in the best possible light. An individual will attempt to outwardly display the characteristics which are important to the group’s advancement. At the same time, they will conceal any parts of their personality that may be seen as undesirable or not useful to a group.
Cảm giác an toàn vốn có khi là một phần của nhóm đủ mạnh để khiến con người sử dụng cả những chiến lược có ý thức lẫn vô thức để gia nhập. Một cách rõ ràng mà con người nỗ lực để được chấp nhận là tự thể hiện – nghĩa là phô bày hình ảnh bản thân ở mức tốt nhất. Một cá nhân sẽ cố gắng thể hiện những đặc điểm quan trọng cho sự phát triển của nhóm. Đồng thời, họ cũng giấu đi bất kỳ khía cạnh tính cách nào có thể bị coi là không mong muốn hoặc không có lợi cho nhóm.
An example of self-presentation is the job application process. A candidate applying for a job will promote themselves as motivated, but is likely to hide the fact that they are disorganised. These conscious tactics that people use are not a surprise to anyone, but we also use other strategies unknowingly.
Một ví dụ điển hình về việc tự thể hiện là quá trình xin việc. Một ứng viên xin việc sẽ đánh bóng bản thân là người có động lực cao, nhưng có lẽ sẽ giấu việc mình thiếu tổ chức. Những chiến thuật có ý thức mà mọi người sử dụng không khiến ai ngạc nhiên, nhưng chúng ta cũng sử dụng những chiến lược khác mà không hề hay biết.
Psychologists Jessica Larkin, Tanya Chartrand and Robert Arkin suggested that people often resort to automatic mimicry to gain affiliation into groups, much like our primitive ancestors used to do. Before humans had the ability to speak, physical imitation was a method of begging for a place in the group. Most will be unaware they are doing it. Larkin and her co-workers decided to test this hypothesis.
Các nhà tâm lý học Jessica Larkin, Tanya Chartrand và Robert Arkin cho rằng con người thường sử dụng bắt chước tự động để được gia nhập nhóm, giống như tổ tiên nguyên thủy của chúng ta vẫn làm. Trước khi con người biết nói, việc bắt chước về mặt thể chất là một cách để “cầu xin” được gia nhập nhóm. Hầu hết chúng ta sẽ không nhận ra mình đang làm điều đó. Larkin và các cộng sự của mình quyết định kiểm chứng giả thuyết này.
They took a group of student volunteers and had them play a game called Cyberball, a ball tossing arcade game that resembled American football. The volunteers were led to believe they were all playing against each other, but in actual fact they were not. The computer was manipulating the game by passing the ball to some volunteers and excluding others.
Họ mời một nhóm sinh viên tình nguyện chơi một trò gọi là Cyberball, một game arcade chuyền bóng tương tự bóng bầu dục Mỹ. Nhóm sinh viên tin rằng họ đang chơi với nhau, nhưng thực chất họ không hề. Máy tính đã can thiệp bằng cách chỉ chuyền bóng cho một số sinh viên, đồng thời loại trừ những người khác.
The ‘accepted’ and ‘rejected’ students were then asked if they enjoyed the game and about their opinions of the other players. Participants were then put alone in a room and their natural foot movements were filmed. Then a female entered the room under the pretence of conducting a fake photo description task. The female deliberately moved her foot during the task, but not in a way that would be noticeable to the volunteer. It turned out that the rejected students mimicked the female’s foot movements the most. This revealed that after exclusion, people will automatically mimic to affiliate with someone new.
Những sinh viên “được chấp nhận” và “bị loại trừ” sau đó được hỏi liệu họ có thích trò chơi hay không và ý kiến của họ về những người chơi khác. Sau đó, mỗi sinh viên được đặt một mình trong phòng và chuyển động chân tự nhiên của họ được quay phim lại. Tiếp theo, một phụ nữ bước vào phòng với lý do thực hiện một bài mô tả ảnh giả. Người phụ nữ này cố tình di chuyển chân trong lúc thực hiện nhiệm vụ, nhưng không đủ để tình nguyện viên chú ý. Kết quả cho thấy những sinh viên bị loại trừ đã bắt chước chuyển động chân của người phụ nữ này nhiều nhất. Điều này cho thấy sau khi bị gạt ra ngoài, con người tự động bắt chước để hòa nhập với người mới.
However, Larkin and her colleagues wanted to go further. They believed that more often than not, in the real world, we actually know the people that reject us. How do we behave towards the group that we know has excluded us? The experiment was repeated with this question in mind. In the second experiment, only female volunteers played the Cyberball game, during which they experienced rejection by either men or women. Then each volunteer did the fake photo task, but this time with a man and then a woman.
Tuy nhiên, Larkin và các đồng nghiệp muốn tiến xa hơn. Họ tin rằng trong đời thực, chúng ta thường biết rõ những người đã từ chối mình. Vậy chúng ta sẽ cư xử thế nào với nhóm mà ta biết là họ đã gạt mình ra? Thí nghiệm được lặp lại với câu hỏi này trong tâm trí. Trong thử nghiệm thứ hai, chỉ có các tình nguyện viên nữ tham gia trò Cyberball, trong đó họ bị từ chối hoặc bởi nam hoặc bởi nữ. Sau đó, mỗi sinh viên nữ thực hiện bài mô tả ảnh giả, nhưng lần này với một nam trước rồi đến một nữ.
The results clearly indicated that the female students that felt rejected would unconsciously make more of an effort to mimic members of their own in-group – that is, other women – rather than men. This deep-wired instinct to mimic was not only directed towards random people, as initially thought, but targeted to specific groups, the particular group that did the rejecting in the first place.
Kết quả rõ ràng cho thấy những sinh viên nữ cảm thấy bị từ chối sẽ vô thức cố gắng bắt chước nhiều hơn với các thành viên cùng nhóm nữ của họ – thay vì với nam giới. Bản năng ăn sâu để bắt chước không chỉ hướng vào những người ngẫu nhiên như ban đầu nghĩ, mà còn nhắm vào đúng nhóm cụ thể, chính nhóm đã loại trừ họ ngay từ đầu.
To some, it is inconceivable why people will go to great lengths to be accepted into one of life’s social groups or clubs, enduring rejection and sometimes humiliation in order to be accepted. You only have to look at college campuses, which are notorious for strict initiations inflicted on candidates desperately seeking membership. But it happens and will continue to happen, because the desire to belong is a very powerful force and a fundamental part of human nature.
Với một số người, thật khó hiểu tại sao họ lại cố gắng đến mức đó để được chấp nhận vào một câu lạc bộ hay nhóm xã hội, chịu đựng sự từ chối và đôi khi cả sự sỉ nhục để được chấp nhận. Bạn chỉ cần nhìn vào những khuôn viên đại học, nổi tiếng với những “nghi thức kết nạp” khắc nghiệt áp dụng cho các ứng viên nóng lòng muốn trở thành thành viên. Nhưng chuyện đó vẫn xảy ra, và sẽ tiếp tục xảy ra, vì mong muốn thuộc về một tập thể là một lực đẩy vô cùng mạnh mẽ và là một phần căn bản trong bản chất con người.
