Mystery on Easter Island
A. One of the world’s most famous yet least visited archaeological sites, Easter Island is a small, hilly, now treeless island of volcanic origin. Located in the Pacific Ocean at 27 degrees south of the equator and some 2200 miles (3600 kilometers) off the coast of Chile, it is considered to be the world’s most remote inhabited island. The island is, technically speaking, a single massive volcano rising over ten thousand feet from the Pacific Ocean floor. The island received its most well-known current name, Easter Island, from the Dutch sea captain Jacob Roggeveen who became the first European to visit on Easter Sunday, April 5, 1722.
Một trong những địa điểm khảo cổ nổi tiếng nhất thế giới nhưng lại ít người ghé thăm, Đảo Phục Sinh là một hòn đảo nhỏ, nhiều đồi và hiện nay không còn cây cối, có nguồn gốc núi lửa. Nằm ở Nam Thái Bình Dương tại vĩ độ 27 độ nam so với đường xích đạo và cách bờ biển Chile khoảng 3.600 km, đây được coi là hòn đảo có cư dân sinh sống xa xôi nhất thế giới. Về mặt kỹ thuật, hòn đảo này là một ngọn núi lửa khổng lồ nhô lên hơn 3.000 mét so với đáy Thái Bình Dương. Tên gọi phổ biến nhất hiện nay, “Đảo Phục Sinh”, được đặt bởi thuyền trưởng người Hà Lan Jacob Roggeveen, người châu Âu đầu tiên đến thăm đảo vào ngày Chủ nhật Phục Sinh, 5/4/1722.
B. In the early 1950s, the Norwegian explorer Thor Heyerdahl popularized the idea that the island had been originally settled by advanced societies of Indians from the coast of South America. Extensive archaeological, ethnographic and linguistic research has conclusively shown this hypothesis to be inaccurate. It is now recognized that the original inhabitants of Easter Island are of Polynesian stock (DNA extracts from skeletons have confirmed this), that they most probably came from the Marquesas or Society islands, and that they arrived as early as 318 AD (carbon dating of reeds from a grave confirms this). At the time of their arrival, much of the island was forested, was teeming with land birds, and was perhaps the most productive breeding site for seabirds in the Polynesia region. Because of the plentiful bird, fish and plant food sources, the human population grew and gave rise to a rich religious and artistic culture.
Vào đầu những năm 1950, nhà thám hiểm Na Uy Thor Heyerdahl đã khiến công chúng biết đến giả thuyết cho rằng đảo này ban đầu do các bộ tộc tiên tiến từ bờ biển Nam Mỹ đến định cư. Tuy nhiên, các nghiên cứu khảo cổ, dân tộc học và ngôn ngữ học quy mô lớn đã chứng minh giả thuyết này không chính xác. Ngày nay, người ta thừa nhận rằng cư dân đầu tiên của Đảo Phục Sinh là người gốc Polynesia (các mẫu ADN từ bộ xương đã xác nhận điều này), nhiều khả năng họ đến từ quần đảo Marquesas hoặc Society, và họ đã đặt chân đến sớm nhất vào năm 318 SCN (phân tích carbon một số lau sậy từ một ngôi mộ xác thực điều này). Thời điểm họ đến, hầu hết đảo được bao phủ rừng cây, có nhiều chim trên cạn, và có lẽ là nơi sinh sản dồi dào nhất cho các loài chim biển trong khu vực Polynesia. Nhờ nguồn thức ăn phong phú từ chim, cá và thực vật, dân số con người tăng lên và hình thành một nền văn hóa tôn giáo, nghệ thuật phát triển.
C. That culture’s most famous features are its enormous stone statues called moai, at least 288 of which once stood upon massive stone platforms called ahu. There are some 250 of these ahu platforms spaced approximately one half mile apart and creating an almost unbroken line around the perimeter of the island. Another 600 moai statues, in various stages of completion, are scattered around the island, either in quarries or along ancient roads between the quarries and the coastal areas where the statues were most often erected. Nearly all the moai are carved from the tough stone of the Rano Raraku volcano. The average statue is 14 feet and 6 inches tall and weighs 14 tons. Some moai were as large as 33 feet and weighed more than 80 tons. Depending upon the size of the statues, it has been estimated that between 50 and 150 people were needed to drag them across the countryside on sleds and rollers made from the island’s trees.
Đặc trưng nổi tiếng nhất của nền văn hóa đó là những bức tượng đá khổng lồ gọi là moai, với ít nhất 288 tượng từng đứng trên các bệ đá lớn gọi là ahu. Có khoảng 250 bệ ahu bố trí cách nhau khoảng 800 mét, tạo thành một vòng gần như liên tục quanh bờ biển. Ngoài ra còn có 600 tượng moai khác, đang ở các giai đoạn thi công khác nhau, rải rác trên đảo, hoặc còn nằm trong các mỏ đá hoặc trên các tuyến đường cổ xưa giữa mỏ đá và vùng ven biển, nơi thường được dựng tượng. Gần như tất cả moai được tạc từ loại đá cứng ở núi lửa Rano Raraku. Một tượng moai trung bình cao 4,4 mét và nặng 14 tấn. Có tượng cao tới 10 mét, nặng hơn 80 tấn. Tùy vào kích cỡ tượng, ước tính cần từ 50 đến 150 người kéo tượng ngang qua đảo trên các xe trượt hay con lăn được làm từ gỗ của cây trên đảo.
D. Scholars are unable to definitively explain the function and use of the moai statues. It is assumed that their carving and erection derived from an idea rooted in similar practices found elsewhere in Polynesia but which evolved in a unique way on Easter Island. Archaeological and iconographic analysis indicates that the statue cult was based on an ideology of male, lineage-based authority incorporating anthropomorphic symbolism. The statues were thus symbols of authority and power, both religious and political. But they were not only symbols. To the people who erected and used them, they were actual repositories of sacred spirit. Carved stone and wooden objects in ancient Polynesian religions, when properly fashioned and ritually prepared, were believed to be charged by a magical spiritual essence called mana. The ahu platforms of Easter Island were the sanctuaries of the people, and the moai statues were the ritually charged sacred objects of those sanctuaries.
Các học giả vẫn chưa thể giải thích chắc chắn chức năng và mục đích của những bức tượng moai. Người ta cho rằng việc tạc và dựng chúng bắt nguồn từ một ý niệm xuất phát từ những thực hành tương tự ở nơi khác tại Polynesia, nhưng đã phát triển một cách độc đáo ở Đảo Phục Sinh. Phân tích khảo cổ và biểu tượng học cho thấy tôn giáo thờ tượng gắn liền với ý thức hệ quyền lực nam tính theo dòng dõi, gắn với biểu tượng nhân hình. Những bức tượng này là biểu trưng của quyền lực và sức mạnh, cả về tôn giáo lẫn chính trị. Song chúng không chỉ dừng ở mức biểu trưng. Với người dựng tượng và sử dụng chúng, đây còn là những vật phẩm lưu giữ linh hồn thiêng liêng. Các vật bằng đá hay gỗ được chạm khắc trong tôn giáo cổ Polynesia, khi chế tác và làm nghi lễ đúng cách, được cho là có năng lượng tâm linh huyền bí gọi là mana. Các bệ ahu của Đảo Phục Sinh là thánh địa của người dân, và các tượng moai chính là những vật phẩm thiêng liêng mang sức mạnh nghi lễ của thánh địa đó.
E. Besides its more well-known name, Easter Island is also known as Te-Pito-O-Te-Henua, meaning ‘The Navel of the World’, and as Mata-Ki-Te-Rani, meaning ‘Eyes Looking at Heaven’. These ancient names and a host of mythological details ignored by mainstream archaeologists, point to the possibility that the remote island may once have been a geodetic marker and the site of an astronomical observatory of a long forgotten civilization. In his book, Heaven’s Mirror, Graham Hancock suggests that Easter Island may once have been a significant scientific outpost of this antediluvian civilization and that its location had extreme importance in a planet-spanning, mathematically precise grid of sacred sites. Two other alternative scholars, Christopher Knight and Robert Lomas, have extensively studied the location and possible function of these geodetic markers. In their fascinating book, Uriel’s Machine, they suggest that one purpose of the geodetic markers was as part of a global network of sophisticated astronomical observatories dedicated to predicting and preparing for future cometary impacts and crustal displacement cataclysms.
Bên cạnh tên gọi phổ biến, Đảo Phục Sinh còn được biết đến với tên Te-Pito-O-Te-Henua, nghĩa là “Cái Rốn của Thế Giới”, và Mata-Ki-Te-Rani, nghĩa là “Đôi Mắt Nhìn Lên Trời”. Những tên cổ này cùng nhiều chi tiết thần thoại bị giới khảo cổ chính thống bỏ qua, cho thấy khả năng hòn đảo xa xôi này từng là một dấu mốc đo đạc và địa điểm của một đài quan sát thiên văn thuộc về một nền văn minh lãng quên lâu đời. Trong cuốn sách Heaven’s Mirror, Graham Hancock gợi ý rằng Đảo Phục Sinh có thể từng là một tiền đồn khoa học quan trọng của nền văn minh tiền đại hồng thủy, và vị trí của nó có tầm quan trọng lớn trong một hệ thống những địa điểm linh thiêng chính xác về mặt toán học trải khắp hành tinh. Hai tác giả khác, Christopher Knight và Robert Lomas, đã nghiên cứu sâu về vị trí cũng như chức năng khả dĩ của những cột mốc địa lý này. Trong cuốn Uriel’s Machine, họ cho rằng một trong các mục đích của hệ thống cột mốc này là tạo thành một mạng lưới quan sát thiên văn tiên tiến trên toàn cầu, nhằm dự báo và chuẩn bị cho những tác động của sao chổi và thảm họa dịch chuyển vỏ Trái Đất.
F. In the latter years of the 20th century and the first years of the 21st century various writers and scientists have advanced theories regarding the rapid decline of Easter Island’s magnificent civilization around the time of the first European contact. Principal among these theories, and now shown to be inaccurate, is that postulated by Jared Diamond in his book Collapse: How Societies Choose to Fail or Survive. Basically these theories state that a few centuries after Easter Island’s initial colonization the resource needs of the growing population had begun to outpace the island’s capacity to renew itself ecologically. By the 1400s the forests had been entirely cut, the rich ground cover had eroded away, the springs had dried up, and the vast flocks of birds coming to roost on the island had disappeared. With no logs to build canoes for offshore fishing, with depleted bird and wildlife food sources, and with declining crop yields because of the erosion of good soil, the nutritional intake of the people plummeted. First famine, then cannibalism, set in. Because the island could no longer feed the chiefs, bureaucrats and priests who kept the complex society running, the resulting chaos triggered a social and cultural collapse. By 1700 the population dropped to between one-quarter and one-tenth of its former number, and many of the statues were toppled during supposed “clan wars” of the 1600 and 1700s.
Trong những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, nhiều tác giả và nhà khoa học đã đưa ra giả thuyết về sự suy tàn nhanh chóng của nền văn minh rực rỡ trên Đảo Phục Sinh vào khoảng thời gian tiếp xúc với người châu Âu lần đầu. Giả thuyết chính, và nay được chứng minh là thiếu chính xác, là của Jared Diamond trong cuốn Collapse: How Societies Choose to Fail or Survive. Nhìn chung, các giả thuyết này cho rằng chỉ vài thế kỷ sau khi con người định cư ban đầu, nhu cầu về tài nguyên của dân số ngày càng tăng bắt đầu vượt quá khả năng tự phục hồi hệ sinh thái của đảo. Đến những năm 1400, rừng cây trên đảo đã bị chặt sạch, lớp phủ mặt đất giàu dinh dưỡng bị xói mòn, các suối nước cạn kiệt và đàn chim khổng lồ từng về đảo cũng biến mất. Không còn gỗ để đóng thuyền đi đánh cá xa bờ, nguồn thức ăn từ chim và động vật hoang dã cạn kiệt, và sản lượng hoa màu giảm do xói mòn đất canh tác, mức dinh dưỡng của cư dân đảo tụt dốc. Nạn đói, rồi tục ăn thịt người, xuất hiện. Khi đảo không còn đủ khả năng nuôi các tù trưởng, các quan chức và tu sĩ vận hành xã hội phức tạp, hỗn loạn bùng phát và dẫn đến sự sụp đổ xã hội và văn hóa. Đến năm 1700, dân số giảm xuống chỉ còn từ một phần tư đến một phần mười so với trước đó, và nhiều tượng moai bị lật đổ trong các “cuộc chiến thị tộc” vào thế kỷ 17 và 18.
G. The faulty notions presented in these theories began with the racist assumptions of Thor Heyerdahl and have been perpetuated by writers, such as Jared Diamond, who do not have sufficient archaeological and historical understanding of the actual events which occurred on Easter Island. The real truth regarding the tremendous social devastation which occurred on Easter Island is that it was a direct consequence of the inhumane behavior of many of the first European visitors, particularly the slavers who raped and murdered the islanders, introduced smallpox and other diseases, and brutally removed the natives to mainland South America.
Những quan điểm sai lầm trong các giả thuyết này bắt đầu từ định kiến phân biệt chủng tộc của Thor Heyerdahl, và được lưu truyền bởi các tác giả như Jared Diamond, những người không có đầy đủ kiến thức khảo cổ và lịch sử về những sự kiện thực sự diễn ra trên Đảo Phục Sinh. Thực tế về sự tàn phá xã hội nghiêm trọng xảy ra tại Đảo Phục Sinh là nó xuất phát trực tiếp từ hành vi vô nhân đạo của nhiều vị khách châu Âu đầu tiên, đặc biệt là những kẻ buôn nô lệ đã cưỡng hiếp, sát hại dân đảo, mang theo bệnh đậu mùa và nhiều bệnh khác, đồng thời tàn bạo đưa người dân bản địa về Nam Mỹ.
