Grimm's Fairy Tales
Mở đầu The Brothers Grimm, Jacob and Wilhelm, named their story collection Children’s and Household Tales and published the first of its seven editions in Germany in 1812. The table of contents reads like an A-list of fairy-tale celebrities: Cinderella, Sleeping Beauty, Snow White, Little Red Riding Hood, Rapunzel, Rumpelstiltskin, Hansel and Gretel, the Frog King. Drawn mostly from oral narratives, the 210 stories in ‘the Grimm’s’ collection represent an anthology of fairy tales, animal fables, rustic farces, and religious allegories that remain unrivalled to this day.
Anh em nhà Grimm, Jacob và Wilhelm, đã đặt tên cho tuyển tập truyện của mình là Children's and Household Tales (Truyện cổ tích cho trẻ em và gia đình) và cho xuất bản ấn bản đầu tiên trong số bảy ấn bản tại Đức vào năm 1812. Mục lục của tuyển tập đọc lên chẳng khác nào một danh sách các nhân vật cổ tích nổi tiếng bậc nhất: Cinderella (Lọ Lem), Sleeping Beauty (Người đẹp ngủ trong rừng), Snow White (Bạch Tuyết), Little Red Riding Hood (Cô bé quàng khăn đỏ), Rapunzel, Rumpelstiltskin, Hansel and Gretel, và Vua Ếch. Được thu thập chủ yếu từ những câu chuyện truyền miệng, 210 câu chuyện trong tuyển tập của 'anh em nhà Grimm' tạo thành một hợp tuyển gồm truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn về loài vật, những màn hài kịch dân dã và những câu chuyện mang tính ẩn dụ tôn giáo, và cho đến ngày nay vẫn chưa có tác phẩm nào sánh được.
Such lasting fame would have shocked the humble Grimms. During their lifetimes the collection sold modestly in Germany, at first only a few hundred copies a year. The early editions were not even aimed at children. The brothers initially refused to consider illustrations, and scholarly footnotes took up almost as much space as the tales themselves. Jacob and Wilhelm viewed themselves as patriotic folklorists, not as entertainers of children. They began their work at a time when Germany had been overrun by the French under Napoleon, who was intent on suppressing local culture. As young, workaholic scholars, single and sharing a cramped flat, the Brothers Grimm undertook the fairy-tale collection with the goal of serving the endangered oral tradition of Germany.
Danh tiếng bền bỉ đến vậy hẳn sẽ khiến anh em nhà Grimm khiêm nhường phải kinh ngạc. Lúc họ còn sống, tuyển tập chỉ bán ra ở Đức với số lượng khiêm tốn, ban đầu mỗi năm chỉ vài trăm bản. Những ấn bản đầu tiên thậm chí còn không nhắm đến độc giả là trẻ em. Ban đầu, hai anh em từ chối cả việc đưa hình minh họa vào sách, và phần chú thích học thuật chiếm gần bằng dung lượng của chính các câu chuyện. Jacob và Wilhelm xem mình là những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian yêu nước, chứ không phải những người mua vui cho trẻ nhỏ. Họ bắt đầu công việc này vào thời điểm nước Đức đang bị quân Pháp dưới sự chỉ huy của Napoleon chiếm đóng, kẻ quyết tâm đàn áp văn hóa bản địa. Là những học giả trẻ tuổi, mê công việc đến quên mình, còn độc thân và cùng chung sống trong một căn hộ chật hẹp, anh em nhà Grimm bắt tay vào việc sưu tầm truyện cổ tích với mục tiêu gìn giữ truyền thống truyền miệng đang bị đe dọa của nước Đức.
For much of the 19th century teachers, parents, and religious figures, particularly in the United States, deplored the Grimms’ collection for its raw, uncivilized content. Offended adults objected to the gruesome punishments inflicted on the stories’ villains. In the original “Snow White” the evil stepmother is forced to dance in red-hot iron shoes until she falls down dead. Even today some protective parents shy from the Grimms’ tales because of their reputation for violence.
Trong phần lớn thế kỷ 19, các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh và những nhân vật tôn giáo, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, đã lên án tuyển tập của anh em nhà Grimm vì nội dung thô ráp, thiếu văn minh của nó. Những người lớn thấy khó chịu phản đối những hình phạt ghê rợn giáng xuống các nhân vật phản diện trong truyện. Trong bản gốc của 'Snow White' (Bạch Tuyết), người mẹ kế độc ác bị buộc phải nhảy múa trong đôi giày sắt nung đỏ cho đến khi ngã gục mà chết. Ngay cả ngày nay, một số bậc cha mẹ có xu hướng bảo bọc con vẫn né tránh các câu chuyện của nhà Grimm vì tiếng tăm bạo lực của chúng.
Despite its sometimes rocky reception, Children’s and Household Tales gradually took root with the public. The brothers had not foreseen that the appearance of their work would coincide with a great flowering of children’s literature in Europe. English publishers led the way, issuing high-quality picture books such as Jack and the Beanstalk and handsome folktale collections, all to satisfy a newly literate audience seeking virtuous material for the nursery. Once the Brothers Grimm sighted this new public, they set about refining and softening their tales, which had originated centuries earlier as earthy peasant fare. In the Grimms’ hands, cruel mothers became nasty stepmothers, unmarried lovers were made chaste, and the incestuous father was recast as the devil.
Bất chấp sự đón nhận đôi khi gập ghềnh, Children's and Household Tales dần dần bén rễ trong lòng công chúng. Hai anh em đã không lường trước được rằng sự ra đời của tác phẩm lại trùng với thời kỳ nở rộ rực rỡ của văn học thiếu nhi ở châu Âu. Các nhà xuất bản Anh đi tiên phong, cho ra đời những cuốn sách tranh chất lượng cao như Jack and the Beanstalk (Jack và cây đậu thần) cùng những tuyển tập truyện dân gian được in ấn đẹp đẽ, tất cả nhằm đáp ứng một tầng lớp độc giả mới biết chữ đang tìm kiếm những nội dung mang tính giáo dục đạo đức cho trẻ nhỏ. Một khi đã nhận ra tầng lớp độc giả mới này, anh em nhà Grimm liền bắt tay vào việc trau chuốt và làm dịu bớt các câu chuyện vốn có nguồn gốc từ nhiều thế kỷ trước như những mẩu chuyện mộc mạc của giới nông dân. Dưới bàn tay của nhà Grimm, những người mẹ tàn nhẫn trở thành những bà mẹ kế độc ác, những đôi tình nhân chưa cưới được biến thành trong trắng, và người cha loạn luân được thay thế bằng hình tượng quỷ dữ.
In the 20th century the Grimms’ fairy tales have come to rule the bookshelves of children’s bedrooms. The stories read like dreams come true: handsome lads and beautiful damsels, armed with magic, triumph over giants and witches and wild beasts. They outwit mean, selfish adults. Inevitably the boy and girl fall in love and live happily ever after. And parents keep reading because they approve of the finger-wagging lessons inserted into the stories: keep your promises, don’t talk to strangers, work hard, obey your parents. According to the Grimms, the collection served as “a manual of manners”.
Sang thế kỷ 20, những câu chuyện cổ tích của nhà Grimm đã trở thành ngôi vương trên các kệ sách trong phòng ngủ của trẻ em. Các câu chuyện đọc lên như những giấc mơ thành hiện thực: những chàng trai tuấn tú và những nàng thiếu nữ xinh đẹp, được trang bị phép thuật, chiến thắng những gã khổng lồ, những mụ phù thủy và những con thú hoang. Họ đánh bại bằng trí khôn những người lớn xấu tính, ích kỷ. Và tất yếu, chàng trai và cô gái yêu nhau rồi sống hạnh phúc mãi mãi. Còn các bậc cha mẹ vẫn tiếp tục đọc bởi họ tán thành những bài học răn dạy được lồng ghép trong các câu chuyện: hãy giữ lời hứa, đừng nói chuyện với người lạ, hãy chăm chỉ, hãy vâng lời cha mẹ. Theo lời anh em nhà Grimm, tuyển tập này đóng vai trò như 'một cẩm nang về phép ứng xử'.
Altogether some 40 persons delivered tales to the Grimms. Many of the storytellers came to the Grimms’ house in Kassel. The brothers particularly welcomed the visits of Dorothea Viehmann, a widow who walked to town to sell produce from her garden. An innkeeper’s daughter, Viehmann had grown up listening to stories from travellers on the road to Frankfurt. Among her treasure was “Aschenputtel” – Cinderella. Marie Hassenpflug was a 20-year-old friend of their sister, Charlotte, from a well-bred, French-speaking family. Marie’s wonderful stories blended motifs from the oral tradition and from Perrault’s influential 1697 book, Tales of My Mother Goose, which contained elaborate versions of “Little Red Riding Hood”, “Snow White”, and “Sleeping Beauty”, among others. Many of these had been adapted from earlier Italian tales.
Tổng cộng có khoảng 40 người đã cung cấp các câu chuyện cho anh em nhà Grimm. Nhiều người kể chuyện đã tìm đến ngôi nhà của họ ở Kassel. Hai anh em đặc biệt hoan nghênh những chuyến ghé thăm của bà Dorothea Viehmann, một góa phụ thường đi bộ vào thị trấn để bán rau quả trồng trong vườn nhà. Là con gái một chủ quán trọ, Viehmann lớn lên trong những câu chuyện nghe được từ những người lữ khách trên con đường đến Frankfurt. Trong kho báu của bà có câu chuyện 'Aschenputtel' – tức Cinderella (Lọ Lem). Marie Hassenpflug là một cô gái 20 tuổi, bạn của em gái họ là Charlotte, xuất thân từ một gia đình gia giáo, nói tiếng Pháp. Những câu chuyện tuyệt vời của Marie kết hợp các mô-típ từ truyền thống truyền miệng với các mô-típ từ cuốn sách có ảnh hưởng lớn xuất bản năm 1697 của Perrault, Tales of My Mother Goose (Chuyện Mẹ Ngỗng), vốn chứa đựng những phiên bản công phu của 'Little Red Riding Hood' (Cô bé quàng khăn đỏ), 'Snow White' (Bạch Tuyết) và 'Sleeping Beauty' (Người đẹp ngủ trong rừng), cùng nhiều truyện khác. Nhiều trong số này đã được phóng tác từ những câu chuyện Ý có từ trước đó.
Given that the origins of many of the Grimm fairy tales reach throughout Europe and into the Middle East and Orient, the question must be asked: How German are the Grimm tales? Very, says scholar Heinz Rolleke. Love of the underdog, rustic simplicity, creative energy—these are Teutonic traits. The coarse texture of life during medieval times in Germany, when many of the tales entered the oral tradition, also coloured the narratives. Throughout Europe, children were often neglected and abandoned, like Hansel and Gretel. Accused witches were burned at the stake, like the evil mother-in-law in “The Six Swans”. “The cruelty in the stories was not the Grimm’s fantasy”, Rolleke points out. “It reflected the law-and-order system of the old times”.
Xét việc nguồn gốc của nhiều truyện cổ tích nhà Grimm trải khắp châu Âu và vươn tới cả Trung Đông lẫn phương Đông, ắt phải đặt ra câu hỏi: Các câu chuyện của nhà Grimm mang tính Đức đến mức nào? Rất Đức, học giả Heinz Rolleke khẳng định. Sự đồng cảm với kẻ yếu thế, sự mộc mạc dân dã, năng lượng sáng tạo – đó là những đặc trưng của người German. Kết cấu thô ráp của đời sống thời trung cổ ở Đức, khi nhiều câu chuyện đi vào truyền thống truyền miệng, cũng nhuốm màu lên các câu chuyện. Khắp châu Âu, trẻ em thường bị bỏ bê và ruồng bỏ, giống như Hansel và Gretel. Những người bị buộc tội là phù thủy bị thiêu sống trên giàn lửa, giống như bà mẹ chồng độc ác trong 'The Six Swans' (Sáu con thiên nga). 'Sự tàn nhẫn trong các câu chuyện không phải là do trí tưởng tượng của anh em nhà Grimm', Rolleke chỉ ra. 'Nó phản ánh hệ thống luật pháp và trật tự xã hội của thời xưa'.
The editorial fingerprints left by the Grimms betray the specific values of 19th-century Christian, bourgeois German society. But that has not stopped the tales from being embraced by almost every culture and nationality in the world. What accounts for this widespread, enduring popularity? Bernhard Lauer points to the “universal style” of the writing, “you have no concrete descriptions of the land, or the clothes, or the forest, or the castles. It makes the stories timeless and placeless”. The tales allow us to express “our utopian longings”, says Jack Zipes of the University of Minnesota, whose 1987 translation of the complete fairy tales captures the rustic vigour of the original text. “They show a striving for happiness that none of us knows but that we sense is possible. We can identify with the heroes of the tales and become in our mind the masters and mistresses of our own destinies.”
Những dấu ấn biên tập mà anh em nhà Grimm để lại đã bộc lộ những giá trị đặc thù của xã hội Đức theo Cơ Đốc giáo, mang tính tư sản của thế kỷ 19. Nhưng điều đó không ngăn được các câu chuyện được gần như mọi nền văn hóa và mọi dân tộc trên thế giới đón nhận. Điều gì lý giải cho sự phổ biến rộng khắp và bền bỉ này? Bernhard Lauer chỉ ra 'văn phong mang tính phổ quát' của lối viết: 'bạn không thấy những mô tả cụ thể về vùng đất, hay trang phục, hay khu rừng, hay những lâu đài. Chính điều đó khiến các câu chuyện trở nên vượt thời gian và không thuộc về nơi chốn nào'. Các câu chuyện cho phép chúng ta thể hiện 'những khát khao về một thế giới lý tưởng', theo lời Jack Zipes của Đại học Minnesota, người có bản dịch trọn bộ truyện cổ tích năm 1987 nắm bắt được sức sống mộc mạc của văn bản gốc. 'Chúng cho thấy một khát vọng vươn tới hạnh phúc mà không ai trong chúng ta từng biết đến nhưng lại linh cảm rằng nó có thể trở thành hiện thực. Chúng ta có thể đồng nhất mình với những người hùng trong truyện và trong tâm trí trở thành người làm chủ số phận của chính mình'.
Fairy tales provide a workout for the unconscious, psychoanalysts maintain. Bruno Bettelheim famously promoted the therapeutic of the Grimms’ stories, calling fairy tales the “great comforters.” By confronting fears and phobias, symbolized by witches, heartless stepmothers, and hungry wolves, children find they can master their anxieties. Bettelheim’s theory continues to be hotly debated. But most young readers aren’t interested in exercising their unconsciousness. The Grimm tales, in fact, please in an infinite number of ways, something about them seems to mirror whatever moods or interests we bring to our reading of them. The flexibility of interpretation suits them for almost any time and any culture.
Các nhà phân tâm học cho rằng truyện cổ tích là một bài tập rèn luyện cho vô thức. Bruno Bettelheim nổi tiếng với việc đề cao giá trị trị liệu của các câu chuyện nhà Grimm, gọi truyện cổ tích là 'những nguồn an ủi lớn lao'. Bằng cách đối diện với những nỗi sợ hãi và ám ảnh, được biểu trưng qua những mụ phù thủy, những bà mẹ kế nhẫn tâm và những con sói đói khát, trẻ em nhận ra rằng chúng có thể làm chủ được những lo âu của mình. Lý thuyết của Bettelheim vẫn tiếp tục được tranh luận sôi nổi. Nhưng phần lớn độc giả nhỏ tuổi chẳng hề quan tâm đến việc rèn luyện vô thức của mình. Trên thực tế, các câu chuyện nhà Grimm làm hài lòng người đọc theo vô số cách khác nhau; dường như có điều gì đó ở chúng phản chiếu lại bất cứ tâm trạng hay mối quan tâm nào mà ta mang theo khi đọc. Sự linh hoạt trong cách diễn giải khiến chúng phù hợp với hầu như mọi thời đại và mọi nền văn hóa.
