Reading Passage
Mở đầu Who studies children’s literature and what is it that they study? The answers to this question are complex and messy, because of the many confounding factors which exist in this field.
Ai là người nghiên cứu văn học thiếu nhi và họ nghiên cứu điều gì? Câu trả lời cho câu hỏi này vừa phức tạp vừa rối rắm, bởi có nhiều yếu tố gây nhiễu tồn tại trong lĩnh vực này.
Firstly, unlike literature for adults, children’s literature is not generally written by its own readers. Adults write for children, and thus adult perceptions of what children are and of what they could and should be become woven into the literature.
Thứ nhất, khác với văn học dành cho người lớn, văn học thiếu nhi nhìn chung không do chính độc giả của nó viết ra. Người lớn viết cho trẻ em, và do đó những quan niệm của người lớn về bản chất trẻ em, về việc trẻ em có thể và nên trở thành như thế nào, đã được đan cài vào trong tác phẩm văn học.
Furthermore, some of those who study children’s literature (and those who write certain kinds of children’s books) are less interested in literary values than in the kinds of lessons it can teach- either in terms of creating better children or in terms of serving a particular curriculum. The issue of how a teacher can use a children’s book is often contentious, but even outside the classroom, much material for children is still didactic.
Hơn nữa, một số người nghiên cứu văn học thiếu nhi (và những người viết một số loại sách thiếu nhi nhất định) quan tâm đến những bài học mà tác phẩm có thể truyền tải hơn là các giá trị văn chương của nó - dù là theo hướng giúp trẻ trở nên tốt đẹp hơn hay theo hướng phục vụ một chương trình giảng dạy cụ thể nào đó. Vấn đề giáo viên nên sử dụng một cuốn sách thiếu nhi như thế nào thường gây nhiều tranh cãi, nhưng ngay cả bên ngoài lớp học, phần lớn tài liệu dành cho trẻ em vẫn mang tính giáo huấn (didactic).
Thirdly, while almost all literature is currently promoted within a strong commercial matrix, children’s literature is often especially targeted for marketing initiatives. This fact means that readers are often recruited with a message that is negligibly literary and significantly oriented to ideas of consumption. Daniel Hade (2002) has raised useful questions about whether children’s experience of reading is altered when their books are part of a larger marketing framework involving the movie, the game, and the toy of a popular children’s book. How children perceive and respond to their stories in this new context is an important question.
Thứ ba, trong khi hầu như toàn bộ văn học hiện nay đều được quảng bá trong một mạng lưới thương mại mạnh mẽ, văn học thiếu nhi thường là đối tượng đặc biệt được nhắm đến trong các chiến dịch tiếp thị. Điều này có nghĩa là độc giả nhí thường được lôi kéo bằng một thông điệp gần như không mang tính văn chương mà chủ yếu hướng đến ý tưởng tiêu dùng. Daniel Hade (2002) đã đặt ra những câu hỏi hữu ích về việc liệu trải nghiệm đọc sách của trẻ em có bị thay đổi hay không khi cuốn sách của các em trở thành một phần của một khuôn khổ tiếp thị lớn hơn, bao gồm cả bộ phim, trò chơi, và món đồ chơi ăn theo một cuốn sách thiếu nhi nổi tiếng. Việc trẻ em cảm nhận và phản hồi ra sao đối với câu chuyện của mình trong bối cảnh mới này là một câu hỏi quan trọng.
It is also important to note that texts in an ever-increasing range of new media compete with print media for the attention of the child reader, and create definitional issues for scholars. Does the term ‘literature’ exclusively imply a verbal text? If not, where are the limits? Could a literary computer game ever be considered a work of literature? If not, what kind of attention should be paid to it, since children themselves undoubtedly perceive their print literature as part of a broader continuum? The internet provides one forum through which children now communicate with each other. (In 2003, the internet search engine Google listed 7,920,000 sites relating to the Harry Potter novels; even allowing for duplication and dead ends, that is a number with revolutionary implications.)
Cũng cần lưu ý rằng các văn bản thuộc một phạm vi phương tiện truyền thông mới ngày càng đa dạng đang cạnh tranh với các phương tiện in ấn để giành lấy sự chú ý của độc giả nhí, đồng thời tạo ra những vấn đề về mặt định nghĩa đối với giới học giả. Liệu thuật ngữ 'văn học' có nhất thiết chỉ hàm ý một văn bản ngôn từ hay không? Nếu không, thì giới hạn của nó nằm ở đâu? Liệu một trò chơi điện tử mang tính văn chương có bao giờ được coi là một tác phẩm văn học hay không? Nếu không, thì nó cần được nhìn nhận và quan tâm ra sao, khi mà bản thân trẻ em chắc chắn xem văn học in ấn của mình như một phần trong một chuỗi liên tục rộng lớn hơn? Internet hiện là một diễn đàn mà qua đó trẻ em giao tiếp với nhau. (Năm 2003, công cụ tìm kiếm Google liệt kê 7.920.000 trang web liên quan đến các tiểu thuyết Harry Potter; ngay cả khi tính đến sự trùng lặp và các đường dẫn chết, đó vẫn là một con số mang những hàm ý mang tính cách mạng.)
Finally, in the context of the higher education institutions where the formal study of children’s literature is often located, at least three disciplinary frameworks (English, education, and librarianship) fragment the focus of scholarly study of children’s literature.
Cuối cùng, trong bối cảnh các cơ sở giáo dục đại học - nơi việc nghiên cứu chính thức về văn học thiếu nhi thường được đặt vào - có ít nhất ba khung ngành học thuật (Ngữ văn Anh, Giáo dục học, và Khoa học thư viện) làm phân tán trọng tâm nghiên cứu học thuật về văn học thiếu nhi.
How is the value of the imaginative encounter with the work of literature sustained and honored among such a welter of conflicting interests? One route through this maze is to ask the child readers for help. As David Lewis (2001) has perceptively noted, what children think of reading is not usually the same as what adults think, whether teachers or parents. As Lewis points out children ‘sometimes see more and they often see differently’. If those who study reading can explore children’s perceptions as well as those of adults, their understanding of the nature of reading will be enhanced.
Làm thế nào để giá trị của cuộc gặp gỡ mang tính tưởng tượng với tác phẩm văn học được duy trì và tôn trọng giữa vô vàn những lợi ích xung đột như vậy? Một hướng đi để thoát khỏi mê cung này là hỏi ý kiến chính các độc giả nhí. Như David Lewis (2001) đã nhận xét một cách sâu sắc, những gì trẻ em nghĩ về việc đọc thường không giống với những gì người lớn nghĩ, dù đó là giáo viên hay phụ huynh. Như Lewis chỉ ra, trẻ em 'đôi khi nhìn thấy nhiều hơn và các em thường nhìn nhận sự việc theo một cách khác'. Nếu những người nghiên cứu việc đọc có thể tìm hiểu nhận thức của trẻ em cũng như của người lớn, thì sự hiểu biết của họ về bản chất của việc đọc sẽ được nâng cao.
Lewis makes a further valid point when he adds that exploring children’s perceptions is usually justified for educational reasons: “It is true that a better understanding of how children read and how they learn to read, is a prerequisite to improved approaches to teaching.” However, it can also be argued, as Lewis rightly does, that when children’s responses to literature are accessed and interpreted, they frequently lead to an understanding of how picture books appeal to children.
Lewis đưa ra thêm một luận điểm xác đáng khi ông nói thêm rằng việc tìm hiểu nhận thức của trẻ em thường được biện minh vì lý do giáo dục: 'Đúng là một sự hiểu biết tốt hơn về cách trẻ em đọc và cách các em học đọc là điều kiện tiên quyết để cải thiện các phương pháp giảng dạy.' Tuy nhiên, cũng có thể lập luận, như chính Lewis đã đúng đắn chỉ ra, rằng khi các phản hồi của trẻ em đối với văn học được thu thập và diễn giải, chúng thường dẫn đến một sự hiểu biết về cách mà sách tranh (picture books) thu hút trẻ em.
Young people’s accounts of what and how they read also enable a more sophisticated description of many of the complex processes involved in reading. All descriptions of reading run the risk of solipsism: i.e. this is how I read so this is what reading is for everyone. Asking other readers how they read, however, reduces that risk. For example, if I am a strong visualizer as I read, I may consider that visualization is a key component of successful reading and I may judge books by their capacity to evoke a vivid visual response. Other readers, however, may help me to realize that not everyone reads with mental pictures. Some readers respond to the patterns of the words, ‘hearing’ them inaudibly like a subliminal radio program. Others respond to the patterns of feelings in the story, responding with an emotional connection. Talking to competent readers, of all ages, provides a better understanding of reading experiences.
Những chia sẻ của giới trẻ về việc các em đọc gì và đọc như thế nào cũng giúp đưa ra một mô tả tinh vi hơn về nhiều quá trình phức tạp liên quan đến việc đọc. Mọi mô tả về việc đọc đều có nguy cơ rơi vào chủ nghĩa duy ngã (solipsism): tức là, đây là cách tôi đọc, vậy nên đây chính là bản chất của việc đọc đối với tất cả mọi người. Tuy nhiên, việc hỏi những độc giả khác về cách họ đọc sẽ làm giảm nguy cơ đó. Ví dụ, nếu tôi là người có khả năng hình dung mạnh khi đọc, tôi có thể cho rằng việc hình dung là một thành tố then chốt của việc đọc thành công, và tôi có thể đánh giá sách dựa trên khả năng gợi lên một phản ứng hình ảnh sống động. Tuy nhiên, những độc giả khác có thể giúp tôi nhận ra rằng không phải ai cũng đọc bằng những hình ảnh trong tâm trí. Một số độc giả phản ứng với nhịp điệu của từ ngữ, 'nghe' chúng một cách không thành tiếng như một chương trình radio tiềm thức. Những người khác lại phản ứng với các mô thức cảm xúc trong câu chuyện, đáp lại bằng một sự kết nối tình cảm. Trò chuyện với những độc giả có năng lực đọc tốt, ở mọi lứa tuổi, mang lại một sự hiểu biết tốt hơn về các trải nghiệm đọc.
Children’s insights are even more important when it comes to understanding the significance of print literature as one aspect of literary culture. Too often adults assume that reading any book at all is a more worthwhile experience than playing a digital game of any kind. A humbler approach would include asking why the game appeals to the player. Many adults will probably never develop the automatic skills to process a game as readily as they can read a book. This does not indicate that a book is better, but that a particular set of skills is absent. Non-players must acknowledge that some fictional universes are thus closed to them, and a logical response would be to find someone who can guide them to the pleasures and challenges of the gaming world. Games need to be judged individually just as books do, and any evaluative framework needs to take this into account.
Những nhận thức sâu sắc của trẻ em càng trở nên quan trọng hơn khi nói đến việc tìm hiểu ý nghĩa của văn học in ấn như một khía cạnh của văn hóa văn chương. Người lớn thường quá hay cho rằng việc đọc bất kỳ cuốn sách nào cũng là một trải nghiệm đáng giá hơn so với việc chơi bất kỳ trò chơi điện tử nào. Một cách tiếp cận khiêm tốn hơn sẽ bao gồm việc đặt câu hỏi tại sao trò chơi đó lại hấp dẫn người chơi. Nhiều người lớn có lẽ sẽ không bao giờ phát triển được những kỹ năng tự động cần thiết để xử lý một trò chơi một cách dễ dàng như khi họ đọc một cuốn sách. Điều này không cho thấy rằng sách thì tốt hơn, mà chỉ cho thấy rằng một tập hợp kỹ năng cụ thể nào đó đang thiếu vắng. Những người không chơi trò chơi điện tử phải thừa nhận rằng một số vũ trụ hư cấu vì thế khép kín đối với họ, và một phản ứng hợp lý sẽ là tìm một ai đó có thể hướng dẫn họ đến những thú vui và thử thách của thế giới trò chơi điện tử. Trò chơi cần được đánh giá theo từng trường hợp riêng lẻ, giống như sách vậy, và bất kỳ khung đánh giá nào cũng cần phải tính đến điều này.
