Blue-footed Boobies 2
A. Boobies are a small group of seabirds native to tropical and subtropical oceans throughout the world. Their diet consists mainly of fish. They are specialised fish eaters feeding on small school fish like sardines, anchovies, mackerel, and flying fish. When their prey is in sight, they fold their long wings back around their streamlined bodies and plunge into the water from as high as 80 feet, so streamlined they barely make a splash. They travel in parties of about 12 to areas of water with large schools of small fish. When the lead bird sees a fish shoal in the water, it will signal the rest of the group and they will all dive together. Surprisingly, individuals do not eat with the hunting group, preferring to eat on their own, usually in the early morning or late afternoon.
Chim ó chân (Boobies) là một nhóm nhỏ chim biển bản địa ở các đại dương nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới. Chế độ ăn của chúng chủ yếu bao gồm cá. Chúng là loài chuyên ăn cá, ăn các loài cá bơi theo đàn nhỏ như cá mòi, cá cơm, cá thu và cá chuồn. Khi con mồi ở trong tầm ngắm, chúng gập đôi cánh dài của mình quanh cơ thể thuôn và lao xuống nước từ độ cao 80 feet, chúng thuôn đến mức hầu như không tạo ra tiếng té nước. Chúng đi theo tốp khoảng 12 con đến các vùng nước có đàn cá nhỏ lớn. Khi con chim đầu đàn nhìn thấy một đàn cá trong nước, nó sẽ ra hiệu cho cả nhóm và tất cả sẽ cùng nhau lặn xuống. Đáng ngạc nhiên là, các cá thể không ăn cùng nhóm săn mồi, mà thích tự ăn một mình, thường là vào sáng sớm hoặc chiều muộn.
B. There are three varieties on the Galapagos: the blue-footed, red-footed, and masked boobies. They are all members of the same family, and are not only different in appearance but also in behaviours. The blue-footed and red-footed boobies mate throughout the year, while the masked boobies have an annual mating cycle that differs from island to island. All catch fish in a similar manner, but in different areas: the blue-footed booby does its fishing close to shore, while the masked booby goes slightly farther out, and the red-footed booby fishes at the farthest distances from shore.
Có ba loại ở Galapagos: chim ó chân xanh, chân đỏ và chân mặt nạ. Tất cả chúng đều là thành viên của cùng một họ, và không chỉ khác nhau về ngoại hình mà còn cả về hành vi. Chim ó chân xanh và chân đỏ giao phối quanh năm, trong khi chim ó chân mặt nạ có chu kỳ giao phối hàng năm khác nhau tùy theo từng đảo. Tất cả đều bắt cá theo cách tương tự, nhưng ở các khu vực khác nhau: chim ó chân xanh đánh bắt gần bờ, trong khi chim ó chân mặt nạ đi xa hơn một chút, và chim ó chân đỏ đánh bắt ở khoảng cách xa nhất so với bờ.
C. Although it is unknown where the name “Booby” emanates from, some conjecture it may come from the Spanish word for clown, “bobo”, meaning 'stupid'. Its name was probably inspired by the bird's clumsiness on land and apparently unwarranted bravery. The blue footed booby is extremely vulnerable to human visitors because it does not appear to fear them. Therefore these birds received such name for their clumsiness on land in which they were easily captured, killed, and eaten by humans.
Mặc dù không rõ cái tên “Booby” bắt nguồn từ đâu, một số phỏng đoán nó có thể xuất phát từ từ tiếng Tây Ban Nha chỉ chú hề, “bobo”, có nghĩa là 'ngu ngốc'. Tên của nó có lẽ được lấy cảm hứng từ sự vụng về của loài chim trên cạn và sự dũng cảm dường như không có cơ sở của chúng. Chim ó chân xanh cực kỳ dễ bị tổn thương trước du khách là con người vì nó dường như không sợ hãi họ. Do đó, những con chim này nhận được cái tên như vậy vì sự vụng về của chúng trên cạn, nơi chúng dễ dàng bị con người bắt, giết và ăn thịt.
D. The blue-footed booby's characteristic feet play a significant part in their famous courtship ceremony, the 'booby dance'. The male walks around the female, raising his bright blue feet straight up in the air, while bringing his 'shoulders' towards the ground and crossing the bottom tips of his wings high above the ground. Plus he'll raise his bill up towards the sky ('skypointing') to try to win his mate over. The female may also partake in these activities—lifting her feet, skypointing, and of course squawking at her mate. After mating, another ritual occurs—the nest-building which ironically is never used because they nest on the bare ground. When the female is ready to lay her eggs, they scrape the existing nest away so she can nest on exposed ground. Sun-baked islands form the booby's breeding grounds. When ready the female Blue Footed Booby lays one to three eggs.
Đôi chân đặc trưng của chim ó chân xanh đóng một vai trò quan trọng trong nghi lễ tán tỉnh nổi tiếng của chúng, 'điệu nhảy booby'. Con đực đi vòng quanh con cái, nhấc thẳng đôi chân màu xanh sáng của mình lên không trung, đồng thời hạ 'vai' xuống đất và bắt chéo đầu cánh cao trên mặt đất. Thêm vào đó, nó sẽ ngẩng mỏ lên trời ('skypointing') để cố gắng chinh phục bạn tình. Con cái cũng có thể tham gia vào các hoạt động này—nhấc chân, chỉ mỏ lên trời, và tất nhiên là kêu quác quác với bạn tình. Sau khi giao phối, một nghi lễ khác diễn ra—việc xây tổ, mà trớ trêu thay lại không bao giờ được sử dụng vì chúng làm tổ trên mặt đất trần. Khi con cái sẵn sàng đẻ trứng, chúng cào tổ hiện có đi để có thể làm tổ trên mặt đất lộ thiên. Các hòn đảo bị nắng nung tạo thành bãi sinh sản của chim ó. Khi sẵn sàng, chim ó chân xanh cái đẻ một đến ba quả trứng.
E. After mating, two or three eggs are laid in a shallow depression on flat or gently sloping ground. Both male and female take turns incubating the eggs. Unlike most birds, booby doesn't develop brood patches (areas of bare skin on the breast) to warm the eggs during incubation. Instead, it uses its broad webbed feet, which have large numbers of prominent blood vessels, to transmit heat essential for incubation. The eggs are thick-shelled so they can withstand the full weight of an incubating bird.
Sau khi giao phối, hai hoặc ba quả trứng được đẻ trong một chỗ trũng nông trên mặt đất bằng phẳng hoặc dốc nhẹ. Cả con đực và con cái đều thay phiên nhau ấp trứng. Không giống như hầu hết các loài chim, chim ó không phát triển mảng da ấp trứng (vùng da trần trên ngực) để làm ấm trứng trong quá trình ấp. Thay vào đó, nó sử dụng đôi chân có màng rộng của mình, nơi có số lượng lớn các mạch máu nổi rõ, để truyền nhiệt cần thiết cho việc ấp trứng. Trứng có vỏ dày để chúng có thể chịu được toàn bộ trọng lượng của một con chim đang ấp.
F. After hatching, the male plays a major role in bringing fish home. He can bring back a constant supply of small fish for the chicks, which must be fed continuously. The reason is that the male has a longer tail than the female in relation to his body size, which makes him able to execute shallower dives and to feed closer to shore. Then the female takes a greater part as time proceeds. Sooner or later, the need to feed the young becomes greater than the need to protect them and both adults must fish to provide enough.
Sau khi trứng nở, con đực đóng vai trò chính trong việc mang cá về nhà. Nó có thể mang về nguồn cung cấp cá nhỏ liên tục cho chim con, vốn phải được cho ăn liên tục. Lý do là con đực có đuôi dài hơn con cái so với kích thước cơ thể, điều này giúp nó có thể thực hiện các cú lặn nông hơn và kiếm ăn gần bờ hơn. Sau đó, con cái tham gia nhiều hơn khi thời gian trôi đi. Sớm hay muộn, nhu cầu cho con non ăn trở nên lớn hơn nhu cầu bảo vệ chúng và cả hai con trưởng thành đều phải đi đánh cá để cung cấp đủ.
G. When times are good, the parents may successfully fledge all three chicks, but, in harder times, they may still lay as many eggs yet only obtain enough food to raise one. The problem is usually solved by the somewhat callous-sounding system of 'opportunistic sibling murder'. The first-born chick is larger and stronger than its nest mate(s) as a result of hatching a few days earlier and also because the parents feed the larger chick first. If food is scarce, the first born will get more food than its nest mate(s) and will outcompete them, causing them to starve. The above system optimizes the reproductive capacity of the blue-foot in an unpredictable environment. The system ensures that, if possible, at least one chick will survive a period of shortage rather than all three dying of starvation under a more 'humane' system.
Khi thời gian thuận lợi, cha mẹ có thể nuôi thành công cả ba con non, nhưng trong thời kỳ khó khăn hơn, chúng vẫn có thể đẻ nhiều trứng như vậy nhưng chỉ kiếm đủ thức ăn để nuôi một con. Vấn đề thường được giải quyết bằng một hệ thống nghe có vẻ nhẫn tâm là 'giết anh em ruột cơ hội'. Con non nở đầu tiên lớn hơn và khỏe hơn (các) bạn cùng tổ do nở sớm hơn vài ngày và cũng bởi vì cha mẹ cho con lớn hơn ăn trước. Nếu thức ăn khan hiếm, con cả sẽ nhận được nhiều thức ăn hơn (các) bạn cùng tổ và sẽ cạnh tranh thắng chúng, khiến chúng chết đói. Hệ thống trên tối ưu hóa khả năng sinh sản của chim ó chân xanh trong một môi trường không thể đoán trước. Hệ thống này đảm bảo rằng, nếu có thể, ít nhất một con non sẽ sống sót qua thời kỳ thiếu thốn thay vì cả ba con đều chết đói theo một hệ thống 'nhân đạo' hơn.
