Assessing the Risk
A. As a title for a supposedly unprejudiced debate on scientific progress, “Panic attack: interrogating our obsession with risk” did not bode well. Held last week at the Royal Institution in London, the event brought together scientists from across the world to ask why society is so obsessed with risk and to call for a “more rational” approach. “We seem to be organising society around the grandmotherly maxim of ‘better safe than sorry’,” exclaimed Spiked, the online publication that organised the event. “What are the consequences of this overbearing concern with risks?”
Là một tiêu đề cho một cuộc tranh luận được cho là không định kiến về tiến bộ khoa học, “Panic attack: interrogating our obsession with risk” (Tạm dịch: “Cơn hoảng loạn: chất vấn nỗi ám ảnh về rủi ro của chúng ta”) nghe có vẻ không mấy sáng sủa. Được tổ chức vào tuần trước tại Viện Hoàng gia ở London, sự kiện đã quy tụ các nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới để đặt câu hỏi vì sao xã hội lại ám ảnh với rủi ro và kêu gọi một cách tiếp cận “hợp lý hơn.” “Chúng ta dường như đang tổ chức xã hội xoay quanh châm ngôn của bà già: ‘thà an toàn còn hơn hối tiếc’,” trang Spiked, tạp chí trực tuyến tổ chức sự kiện, nhấn mạnh. “Hệ quả của việc lo lắng quá mức về rủi ro này là gì?”
B. The debate was preceded by a survey of 40 scientists who were invited to describe how awful our lives would be if the “precautionary principle” had been allowed to prevail in the past. Their response was: no heart surgery or antibiotics, and hardly any drugs at all; no aeroplanes, bicycles or high-voltage power grids; no pasteurisation, pesticides or biotechnology; no quantum mechanics; no wheel; no “discovery” of America. In short, their message was: no risk, no gain.
Cuộc tranh luận được mở đầu bằng một khảo sát 40 nhà khoa học được mời mô tả cuộc sống của chúng ta sẽ tồi tệ thế nào nếu “nguyên tắc phòng ngừa” đã được áp dụng trong quá khứ. Họ trả lời: sẽ không có phẫu thuật tim hay kháng sinh, và hầu như không có bất cứ loại dược phẩm nào; không có máy bay, xe đạp hay lưới điện cao thế; không có tiệt trùng, thuốc trừ sâu hay công nghệ sinh học; không có cơ học lượng tử; không có bánh xe; không có “khám phá” châu Mỹ. Nói ngắn gọn, thông điệp của họ là: không dám chấp nhận rủi ro thì không có được thành tựu.
C. They have absolutely missed the point. The precautionary principle is a subtle idea. It has various forms, but all of them generally include some notion of cost-effectiveness. Thus the point is not simply to ban things that are not known to be absolutely safe. Rather, it says: “Of course you can make no progress without risk. But if there is no obvious gain from taking the risk, then don’t take it.”
Họ hoàn toàn bỏ lỡ vấn đề cốt lõi. Nguyên tắc phòng ngừa là một khái niệm tinh tế. Nó có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng nhìn chung đều bao gồm yếu tố phân tích chi phí - hiệu quả. Như vậy, điểm mấu chốt không phải là cấm mọi thứ không được chứng minh là hoàn toàn an toàn. Đúng hơn, nó nói rằng: “Tất nhiên, bạn không thể tiến bộ nếu không chấp nhận rủi ro. Nhưng nếu không có lợi ích rõ ràng nào từ việc chấp nhận rủi ro, thì đừng làm điều đó.”
D. Clearly, all the technologies listed by the 40 well-chosen savants were innately risky at their inception, as all technologies are. But all of them would have received the green light under the precautionary principle because they all had the potential to offer tremendous benefits – the solutions to very big problems – if only the snags could be overcome.
Rõ ràng là tất cả những công nghệ được liệt kê bởi 40 “nhà thông thái” đều có rủi ro khi ra đời, bởi vì mọi công nghệ đều như vậy. Nhưng tất cả chúng sẽ được thông qua theo nguyên tắc phòng ngừa, bởi lẽ chúng đều có tiềm năng mang lại lợi ích to lớn – giải quyết những vấn đề cực kỳ lớn – miễn là những trở ngại có thể được khắc phục.
E. If the precautionary principle had been in place, the scientists tell us, we would not have antibiotics. But of course, we would – if the version of the principle that sensible people now understand had been applied. When penicillin was discovered in the 1920s, infective bacteria were laying waste to the world. Children died from diphtheria and whooping cough, every open-drain brought the threat of typhoid, and any wound could lead to septicaemia and even gangrene.
Các nhà khoa học cho rằng nếu nguyên tắc phòng ngừa đã được áp dụng, chúng ta sẽ không có kháng sinh. Nhưng dĩ nhiên, chúng ta vẫn có – nếu phiên bản nguyên tắc mà những người sáng suốt hiểu ngày nay được áp dụng. Khi penicillin được phát hiện vào những năm 1920, vi khuẩn gây nhiễm trùng đang tàn phá thế giới. Trẻ em tử vong vì bạch hầu và ho gà, mọi cống lộ thiên đều mang nguy cơ gây thương hàn, và bất cứ vết thương nào cũng có thể dẫn đến nhiễm trùng máu hoặc thậm chí hoại thư.
F. Penicillin was turned into a practical drug during the Second World War when the many pestilences that result from war threatened to kill more people than the bombs. Of course antibiotics were a priority. Of course, the risks, such as they could be perceived, were worth taking.
Penicillin được chuyển hóa thành một loại thuốc hữu dụng trong Thế chiến II khi vô số dịch bệnh do chiến tranh gây ra còn đe dọa giết chết nhiều người hơn cả bom đạn. Tất nhiên, kháng sinh được ưu tiên hàng đầu. Chắc chắn, những rủi ro – dù ở mức độ có thể nhận thức được – đều xứng đáng để chấp nhận.
G. And so with the other items on the scientists’ list: electric light bulbs, blood transfusions, CAT scans, knives, the measles vaccine – the precautionary principle would have prevented all of them, they tell us. But this is just plain wrong. If the precautionary principle had been applied properly, all these creations would have passed muster, because all offered incomparable advantages compared to the risks perceived at the time.
Và điều tương tự cũng xảy ra với những sáng chế khác trong danh sách của các nhà khoa học: bóng đèn, truyền máu, chụp cắt lớp vi tính, dao, vắc-xin sởi – họ cho rằng nguyên tắc phòng ngừa sẽ ngăn cản tất cả. Nhưng điều này là hoàn toàn sai. Nếu nguyên tắc phòng ngừa được áp dụng đúng cách, tất cả những phát minh này vẫn vượt qua vòng đánh giá, bởi lẽ lợi ích chúng mang lại lúc bấy giờ vượt trội hẳn so với các rủi ro.
H. Another issue is at stake here. Statistics are not the only concept people use when weighing up risk. Human beings, subtle and evolved creatures that we are, do not survive to three-score years and ten simply by thinking like pocket calculators. A crucial issue is the consumer’s choice. In deciding whether to pursue the development of new technology, the consumer’s right to choose should be considered alongside considerations of risk and benefit. Clearly, skiing is more dangerous than genetically modified tomatoes. But people who ski choose to do so; they do not have skiing thrust upon them by portentous experts of the kind who now feel they have the right to reconstruct our crops. Even with skiing, there is the matter of cost-effectiveness to consider: skiing, I am told, is exhilarating. Where is the exhilaration in GM soya?
Còn một vấn đề nữa được đặt ra ở đây. Thống kê không phải là thứ duy nhất mà con người dùng để cân nhắc rủi ro. Con người, với bản chất tinh tế và tiến hóa, không sống đến tuổi “thất thập cổ lai hy” chỉ bằng cách tính toán như một chiếc máy bỏ túi. Vấn đề then chốt là lựa chọn của người tiêu dùng. Khi quyết định có nên tiếp tục phát triển một công nghệ mới hay không, quyền lựa chọn của người tiêu dùng nên được xem xét song song với việc cân nhắc rủi ro và lợi ích. Rõ ràng là trượt tuyết nguy hiểm hơn cà chua biến đổi gen, nhưng những người trượt tuyết tự nguyện tham gia; họ không bị ép trượt tuyết bởi những chuyên gia “ra vẻ” cho rằng họ có quyền thay đổi các giống cây trồng. Ngay cả trong trượt tuyết, yếu tố chi phí - hiệu quả vẫn cần cân nhắc: trượt tuyết, nghe nói, mang lại cảm giác hưng phấn. Còn đậu nành biến đổi gen thì mang lại hưng phấn gì?
I. Indeed, in contrast to all the other items on Spiked’s list, GM crops stand out as an example of a technology whose benefits are far from clear. Some of the risks can at least be defined. But in the present economic climate, the benefits that might accrue from them seem dubious. Promoters of GM crops believe that the future population of the world cannot be fed without them. That is untrue. The crops that really matter are wheat and rice, and there is no GM research in the pipeline that will seriously affect the yield of either. GM is used to make production cheaper and hence more profitable, which is an extremely questionable ambition.
Thật vậy, khác với tất cả những mục còn lại trong danh sách của Spiked, cây trồng biến đổi gen nổi bật như một ví dụ về công nghệ có lợi ích còn rất mơ hồ. Ít nhất, một số rủi ro cũng có thể được nhận diện. Nhưng trong bối cảnh kinh tế hiện tại, các lợi ích tiềm năng dường như không rõ ràng. Những người cổ xúy cho cây trồng biến đổi gen tin rằng dân số tương lai của thế giới sẽ không thể được nuôi sống nếu thiếu công nghệ này. Điều đó không chính xác. Những loại cây thực sự quan trọng là lúa mì và lúa gạo, và hiện không có nghiên cứu nào về biến đổi gen có thể cải thiện đáng kể năng suất của chúng. GM được dùng để sản xuất với chi phí rẻ hơn và do đó tăng lợi nhuận, một tham vọng gây nhiều nghi ngại.
J. The precautionary principle provides the world with a very important safeguard. If it had been in place in the past it might, for example, have prevented insouciant miners from polluting major rivers with mercury. We have come to a sorry pass when scientists, who should above all be dispassionate scholars, feel they should misrepresent such a principle for the purposes of commercial and political propaganda. People at large continue to mistrust science and the high technologies it produces partly because they doubt the wisdom of scientists. On such evidence as this, these doubts are fully justified.
Nguyên tắc phòng ngừa mang lại cho thế giới một biện pháp bảo vệ rất quan trọng. Ví dụ, nếu nó đã có mặt trong quá khứ, có thể nó đã ngăn không cho các thợ mỏ chủ quan làm ô nhiễm những con sông lớn bằng thủy ngân. Thật đáng buồn khi các nhà khoa học, vốn phải là những học giả khách quan nhất, lại cảm thấy cần xuyên tạc nguyên tắc này vì mục đích thương mại và chính trị. Công chúng nói chung vẫn tiếp tục nghi ngờ khoa học và các công nghệ cao mà nó tạo ra, một phần vì họ hoài nghi sự sáng suốt của các nhà khoa học. Dựa vào bằng chứng như vậy, những nghi ngờ này hoàn toàn có cơ sở.
