IELTS Reading Practice • Passage + Full Questions • 150 Vocab • Full Explanations • Full VI Translation • Auto-save
A. It seems biodiversity has become a buzzword beloved of politicians, conservationists, protesters and scientists alike. But what exactly is it? The Convention on Biological Diversity, an international agreement to conserve and share the planet’s biological riches, provides a good working definition: biodiversity comprises every form of life, from the smallest microbe to the largest animal or plant, the genes that give them their specific characteristics and the ecosystems of which they are apart.
B. In October, the World Conservation Union (also known as the IUCN) published its updated Red List of Threatened Species, a roll call of 11,167 creatures facing extinction – 121 more than when the list was last published in 2000. But the new figures almost certainly underestimate the crisis. Some 1.2 million species of animal and 270,000 species of plant have been classified, but the well-being of only a fraction has been assessed. The resources are simply not available. The IUCN reports that 5714 plants are threatened, for example, but admits that only 4 per cent of known plants has been assessed. And, of course, there are thousands of species that we have yet to discover. Many of these could also be facing extinction.
C. It is important to develop a picture of the diversity of life on Earth now so that comparisons can be made in the future and trends identified. But it isn’t necessary to observe every single type of organism in an area to get a snapshot of the health of the ecosystem. In many habitats, there are species that are particularly susceptible to shifting conditions, and these can be used as indicator species.
D. In the media, it is usually large, charismatic animals such as pandas, elephants, tigers and whales that get all the attention when a loss of biodiversity is discussed. However, animals or plants far lower down the food chain are often the ones vital for preserving habitats – in the process saving the skins of those more glamorous species. There are known as keystone species.
E. By studying the complex feeding relationships within habitats, species can be identified that have a particularly important impact on the environment. For example, the members of the fig family are the staple food for hundreds of different species in many different countries, so important that scientists sometimes call figs “jungle burgers”. A whole range of animals, from tiny insects to birds and large mammals, feed on everything from the tree’s bark and leaves to its flowers and fruits. Many fig species have very specific pollinators. There are several dozen species of the fig tree in Costa Rica, and a different type of wasp has evolved to pollinate each one. Chris Lyle of the Natural History Museum in London – who is also involved in the Global Taxonomy Initiative of the Convention on Biological Diversity – points out that if fig trees are affected by global warming, pollution, disease or any other catastrophe, the loss of biodiversity will be enormous.
F. Similarly, sea otters play a major role in the survival of giant kelp forests along the coasts of California and Alaska. These “marine rainforests” provide a home for a wide range of other species. The kelp itself is the main food of purple and red sea urchins and in turn, the urchins are eaten by predators, particularly sea otters. They detach an urchin from the seabed then float to the surface and lie on their backs with the urchin shell on their tummy, smashing it open with a stone before eating the contents. Urchins that are not eaten tend to spend their time in rock crevices to avoid the predators. This allows the kelp to grow – and it can grow many centimetres in a day. As the forests form, bits of kelp break off and fall to the bottom to provide food for the urchins in their crevices. The sea otters thrive hunting for sea urchins in the kelp, and many other fish and invertebrates live among the fronds. The problems start when the sea otter population declines. As large predators they are vulnerable – their numbers are relatively small to disease or human hunters can wipe them out. The result is that the sea urchin population grows unchecked and they roam the seafloor eating young kelp fronds. This tends to keep the kelp very short and stops forests developing, which has a huge impact on biodiversity.
G. Conversely, keystone species can also make dangerous alien species: they can wreak havoc if they end up in the wrong ecosystem. The cactus moth, whose caterpillar is a voracious eater of prickly pear was introduced to Australia to control the rampant cacti. It was so successful that someone thought it would be a good idea to introduce it to Caribbean islands that had the same problem. It solved the cactus menace, but unfortunately, some of the moths have now reached the US mainland – borne on winds and in tourists’ luggage – where they are devastating the native cactus populations of Florida.
H. Organisations like the Convention on Biological Diversity work with groups such as the UN and with governments and scientists to raise awareness and fund research. A number of major international meetings – including the World Summit on Sustainable Development in Johannesburg this year – have set targets for governments around the world to slow the loss of biodiversity. And the CITES meeting in Santiago last month added several more names to its list of endangered species for which trade is controlled. Of course, these agreements will prove of limited value if some countries refuse to implement them.
I. There is cause for optimism, however. There seems to be a growing understanding of the need for sustainable agriculture and sustainable tourism to conserve biodiversity. Problems such as illegal logging are being tackled through sustainable forestry programmes, with the emphasis on minimising the use of rainforest hardwoods in the developed world and on rigorous replanting of whatever trees are harvested. CITES is playing its part by controlling trade in wood from endangered tree species. In the same way, sustainable farming techniques that minimise environmental damage and avoid monoculture.
J. Action at a national level often means investing in public education and awareness. Getting people like you and me involved can be very effective. Australia and many European countries are becoming increasingly efficient at recycling much of their domestic waste, for example, preserving natural resources and reducing the use of fossil fuels. This, in turn, has a direct effect on biodiversity by minimising pollution, and an indirect effect by reducing the number of greenhouse gases emitted from incinerators and landfill sites. Preserving ecosystems intact for future generations to enjoy is obviously important, but biodiversity is not some kind of optional extra. Variety may be “the spice of life”, but biological variety is also our life-support system.
Do the following statements agree with the information in the passage?
Use NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer.
Tab để chuyển ô • Dữ liệu được lưu tự động trong trình duyệt • Không phân biệt HOA/thường.
Tổng cộng: 150 mục.
1 → FALSE. Đoạn A định nghĩa đa dạng sinh học gồm mọi dạng sống, gen và hệ sinh thái. Mệnh đề chỉ nêu “sinh vật + môi trường”, bỏ phần gen ⇒ sai.
2 → FALSE. Đoạn B: nhiều loài chưa được đánh giá vì “Resources are simply not available”, không phải vì “không cần thiết” nghiên cứu tất cả ⇒ trái thông tin.
3 → TRUE. Đoạn C: “it isn’t necessary to observe every single type of organism in an area” ⇒ đúng như mệnh đề.
4 → TRUE. Đoạn D: truyền thông thường chú ý các loài lớn, nổi tiếng (gấu trúc, voi, hổ, cá voi) ⇒ tập trung vào động vật quen tên ⇒ đúng.
5 → FALSE. Đoạn G: bướm xương rồng thành công ở Úc & Caribe, nhưng khi đến Mỹ thì “devastating the native cactus” ⇒ tác động tiêu cực ở Mỹ ⇒ sai.
6 → FALSE. Đoạn I: nhấn mạnh “minimising the use of rainforest hardwoods” (giảm dùng), không phải cấm ⇒ sai.
7 → FALSE. Đoạn I: kỹ thuật nông nghiệp bền vững “avoid monoculture” (tránh độc canh) ⇒ trái với “khuyên trồng một loại cây”.
8 → keystone species. Đoạn D: các loài ở bậc thấp nhưng giữ vai trò sống còn “There are known as keystone species”.
9 → figs / fig trees / the fig family. Đoạn E: họ sung là staple food của hàng trăm loài; được gọi “jungle burgers”.
10 → (sea) urchins. Đoạn F: khi rái cá biển giảm, quần thể cầu gai tăng “grows unchecked”.
11 → cactus moth. Đoạn G: bướm xương rồng được nhập để diệt xương rồng.
12 → Australia. Đoạn G: được đưa vào Australia và rất thành công.
13 → research. Đoạn H: các tổ chức làm việc với chính phủ để “raise awareness and fund research” ⇒ tăng kinh phí cho nghiên cứu.
A. Có vẻ “đa dạng sinh học” đã trở thành một khẩu hiệu được các chính trị gia, nhà bảo tồn, nhà hoạt động và giới khoa học đồng loạt ưa chuộng. Nhưng chính xác nó là gì? Công ước Đa dạng Sinh học – một thoả thuận quốc tế nhằm bảo tồn và chia sẻ sự giàu có sinh học của Trái đất – đưa ra một định nghĩa thực dụng: đa dạng sinh học bao gồm mọi dạng sống, từ vi sinh vật nhỏ nhất đến động vật hay thực vật lớn nhất, các gen tạo nên đặc tính riêng của chúng, và các hệ sinh thái mà chúng là một phần trong đó.
B. Tháng Mười, Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) công bố Bản cập nhật Danh lục Đỏ các loài bị đe doạ, liệt kê 11.167 sinh vật đang đối mặt tuyệt chủng – tăng 121 so với lần công bố năm 2000. Nhưng con số mới hầu như chắc chắn vẫn đánh giá thấp mức độ khủng hoảng. Khoảng 1,2 triệu loài động vật và 270.000 loài thực vật đã được phân loại, song chỉ một phần nhỏ trong số đó được đánh giá tình trạng. Đơn giản là không đủ nguồn lực. IUCN cho biết có 5.714 loài thực vật bị đe doạ, song thừa nhận chỉ 4% số loài đã biết được đánh giá. Và tất nhiên còn hàng nghìn loài chúng ta chưa khám phá – nhiều loài trong số đó cũng có thể đang đối mặt nguy cơ tuyệt chủng.
C. Việc xây dựng bức tranh về mức độ đa dạng của sự sống trên Trái đất lúc này là quan trọng để sau này có thể so sánh và xác định xu hướng. Nhưng không cần phải quan sát mọi dạng sinh vật trong một khu vực để có cái nhìn nhanh về sức khoẻ của hệ sinh thái. Ở nhiều sinh cảnh tồn tại những loài đặc biệt nhạy cảm với biến động điều kiện, và chúng có thể được dùng làm loài chỉ thị.
D. Trên truyền thông, những động vật lớn có sức hút như gấu trúc, voi, hổ và cá voi thường giành hết sự chú ý mỗi khi nói về suy giảm đa dạng sinh học. Tuy nhiên, chính những động vật hay thực vật ở bậc thấp hơn trong chuỗi thức ăn mới thường là các loài sống còn để gìn giữ sinh cảnh – qua đó cũng cứu luôn các loài “hào nhoáng” kia. Chúng được gọi là loài chủ chốt.
E. Bằng cách nghiên cứu các mối quan hệ dinh dưỡng phức tạp trong sinh cảnh, ta có thể xác định những loài có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới môi trường. Chẳng hạn, các loài trong họ sung là thức ăn chủ lực của hàng trăm loài khác ở nhiều quốc gia – quan trọng đến mức các nhà khoa học đôi khi gọi quả sung là “bánh mì rừng”. Một loạt động vật, từ côn trùng nhỏ đến chim chóc và thú lớn, ăn mọi thứ từ vỏ, lá đến hoa và quả của cây. Nhiều loài sung có tác nhân thụ phấn rất chuyên biệt. Ở Costa Rica có vài chục loài sung, và một loại ong bắp cày khác nhau đã tiến hoá để thụ phấn cho từng loài. Chris Lyle (Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London) – người cũng tham gia Sáng kiến Phân loại học Toàn cầu của Công ước Đa dạng Sinh học – chỉ ra rằng nếu cây sung bị ảnh hưởng bởi nóng lên toàn cầu, ô nhiễm, dịch bệnh hay bất kỳ thảm hoạ nào khác thì mức độ suy giảm đa dạng sinh học sẽ rất lớn.
F. Tương tự, rái cá biển giữ vai trò lớn trong sự sống còn của các rừng tảo bẹ khổng lồ dọc bờ biển California và Alaska. Những “rừng mưa đại dương” này là nơi cư trú của nhiều loài khác. Bản thân tảo bẹ là thức ăn chính của cầu gai tím và đỏ, và đến lượt chúng bị những kẻ săn mồi – đặc biệt là rái cá biển – ăn. Rái cá tách cầu gai khỏi đáy biển rồi nổi lên mặt nước, nằm ngửa với vỏ cầu gai trên bụng, dùng đá đập vỡ để ăn phần bên trong. Những con cầu gai không bị ăn thường nấp trong các khe đá để tránh kẻ săn mồi. Nhờ đó tảo bẹ có thể phát triển – thậm chí lớn thêm vài xăng-ti-mét mỗi ngày. Khi rừng hình thành, các mảnh tảo bẹ rơi xuống đáy làm thức ăn cho cầu gai trong các khe nứt. Rái cá phát triển tốt khi săn cầu gai giữa rừng tảo; nhiều loài cá và không xương sống khác sống giữa những tàu lá. Vấn đề nảy sinh khi số lượng rái cá giảm. Là loài săn mồi lớn, chúng dễ bị tổn thương – quần thể vốn ít nên dịch bệnh hay săn bắn của con người có thể xoá sổ. Hệ quả: cầu gai tăng không kiểm soát và rải xuống đáy biển ăn các chồi non của tảo bẹ, khiến tảo bẹ lùn tịt và ngăn rừng hình thành – tác động lớn tới đa dạng sinh học.
G. Ngược lại, loài chủ chốt cũng có thể trở thành loài ngoại lai nguy hiểm nếu xuất hiện nhầm hệ sinh thái. Bướm xương rồng – sâu non ăn khoẻ cây xương rồng lê gai – được đưa vào Úc để kiểm soát nạn xương rồng lan tràn. Quá thành công nên người ta nghĩ đưa nó tới các đảo Caribe có cùng vấn nạn. Nó giải quyết được nạn xương rồng, nhưng đáng tiếc một số con đã bay tới đất liền Mỹ – theo gió và qua hành lý du khách – và đang tàn phá các quần thể xương rồng bản địa ở Florida.
H. Các tổ chức như Công ước Đa dạng Sinh học làm việc với Liên Hợp Quốc, chính phủ và giới khoa học để nâng cao nhận thức và tài trợ nghiên cứu. Nhiều hội nghị quốc tế lớn – gồm cả Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển Bền vững tại Johannesburg năm nay – đã đặt mục tiêu cho các chính phủ trên thế giới nhằm làm chậm sự mất mát đa dạng sinh học. Cuộc họp CITES ở Santiago tháng trước cũng bổ sung thêm nhiều tên vào danh mục loài nguy cấp được kiểm soát thương mại. Tất nhiên, các thoả thuận này sẽ kém giá trị nếu một số quốc gia từ chối thực thi.
I. Tuy vậy vẫn có cơ sở để lạc quan. Dường như ngày càng có sự thấu hiểu về nhu cầu phát triển nông nghiệp và du lịch bền vững để bảo tồn đa dạng sinh học. Những vấn đề như khai thác gỗ trái phép đang được xử lý bằng các chương trình lâm nghiệp bền vững, nhấn mạnh giảm tối đa việc sử dụng gỗ cứng rừng mưa ở các nước phát triển và trồng bù nghiêm ngặt mọi cây bị khai thác. CITES cũng góp phần bằng cách kiểm soát thương mại gỗ từ các loài cây nguy cấp. Tương tự, kỹ thuật canh tác bền vững nhằm giảm thiểu tác hại môi trường và tránh độc canh.
J. Hành động ở cấp quốc gia thường đồng nghĩa đầu tư cho giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng. Thu hút người dân như bạn và tôi tham gia có thể rất hiệu quả. Chẳng hạn Úc và nhiều nước châu Âu ngày càng tái chế hiệu quả phần lớn rác sinh hoạt, qua đó bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và giảm dùng nhiên liệu hoá thạch. Điều này trực tiếp giúp đa dạng sinh học bằng cách giảm ô nhiễm, và gián tiếp bằng cách cắt giảm lượng khí nhà kính thải ra từ lò đốt rác và bãi chôn lấp. Gìn giữ các hệ sinh thái nguyên vẹn cho thế hệ mai sau dĩ nhiên quan trọng, nhưng đa dạng sinh học không phải “món tuỳ chọn thêm”. Sự đa dạng có thể là “hương vị của cuộc sống”, nhưng đa dạng sinh học chính là hệ thống duy trì sự sống của chúng ta.
© IELTS Reading